• Phổ Biến
  • Mới Nhất

Link nhanh menu

19 08 4:15 am

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôn Đức Thắng là một trong những người thuộc lớp chiến sĩ đầu tiên của phong trào công nhân và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta. Sinh ra và lớn lên tại vùng đất Cù lao Ông Hổ (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang) trong một gia đình có thân phụ, thân mẫu đều là những người nông dân cần cù, hiền lành, chất phác; thừa hưởng truyền thống gia đình cộng với bản tính giàu lòng thương người và rất dũng cảm, Bác Tôn đã trở thành tinh hoa tiêu biểu cho phẩm chất cách mạng và phong cách của giai cấp công nhân Việt Nam.

Thời thơ ấu, Bác Tôn được gia đình cho học chữ nho, chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Truyền thống quê hương và tấm gương anh dũng chống thực dân Pháp của các nghĩa quân Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân,... đã in sâu trong tâm hồn Tôn Đức Thắng, thắp lên trong lòng cậu học trò những dự định lớn lao.

Năm 1906, Bác Tôn rời quê hương lên Sài Gòn để học việc và làm thợ, trở thành người công nhân công nghiệp sau đó vào học ở trường cơ khí Á Châu. Năm 1916, Bác được đưa sang Pháp làm lính thợ. Trong thời gian Bác Tôn làm lính thợ trên chiến hạm France, một sự kiện gây tiếng vang lớn trong phong trào công nhân quốc tế là cuộc binh biến của lính thủy Pháp phản đối cuộc tấn công của các nước đế quốc chống chính quyền Xô Viết mà Bác Tôn là người đã kéo lá cờ đỏ phản chiến. Chính bằng hành động trên Bác Tôn đã đại diện cho giai cấp công nhân Việt Nam thể hiện tinh thần quốc tế vô sản. 

Năm 1920, Bác Tôn thành lập công hội đầu tiên ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Công hội phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn phát triển một bước mới từ tự phát lên tự giác bằng cuộc đấu tranh của hơn 1000 công nhân Ba Son vào tháng 8/1925, Công hội bí mật của đồng chí Tôn Đức Thắng sau này là mảnh đất tốt để hạt giống cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đơm hoa kết trái. Năm 1926, Bác Tôn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và chỉ một năm sau (1927), ông được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ. 

Tháng 7/1929, đồng chí Tôn Đức Thắng bị thực dân Pháp bắt giam tại khám lớn Sài Gòn, một năm sau chúng đày đồng chí ra Côn Đảo. Gần mười bảy năm bị giam ở ngục tù, đồng chí đã tham gia đánh bại những luận điệu vu khống, xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản. Trong ngục tù đế quốc, đồng chí luôn nêu cao ý chí kiên cường và giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng kiên cường, hiên ngang, bất khuất, sáng ngời bản lĩnh đã trở thành biểu tượng về khí tiết của người cộng sản, làm các đồng chí đảng viên tù Côn Đảo ngưỡng mộ và làm kẻ thù khiếp sợ. 

Đầu năm 1946, Bác Tôn được Đảng điều động về Trung ương. Tại đây Bác Tôn đã vinh dự được gặp Bác Hồ và trở thành cộng sự đắc lực giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chỉ đạo cuộc kháng chiến kiến quốc. Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Bác Hồ, Bác Tôn cùng với Trung ương đảng và Chính phủ trở về Hà Nội. Sau đó hai Bác bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam.

Từ năm 1954 đến năm 1969, đồng chí Tôn Đức Thắng đảm đương nhiều trọng trách trong hệ thống chính trị, trong đó có vai trò tích cực của đồng chí với tư cách là Trưởng ban chỉ đạo thanh toán nạn mù chữ Trung ương. Hưởng ứng cuộc vận động “Kháng chiến kiến quốc” do Bác Hồ đề ra, Bác Tôn đã cùng các ngành, các ban thi đua vận động hướng dẫn nhân dân thi đua ái quốc “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” làm cho guồng máy kháng chiến chuyển động mạnh và đều, góp phần đưa công cuộc xóa nạn mù chữ hoàn thành về cơ bản ở miền Bắc. 

Do những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, ngày 19/8/1958, tại câu lạc bộ Ba Đình, Bác Hồ đã thay mặt nhân dân và Chính phủ trao tặng cho Bác Tôn Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta mà Bác Tôn là người đầu tiên được trao tặng. 

Ngày 15/7/1960, Bác Tôn được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị là Phó chủ tịch nước, đồng chí góp phần cùng Trung ương Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đánh bại “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam (1960-1964); lãnh đạo sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam (1964-1969). Đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân miền Bắc ra sức thi đua làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Các phong trào thi đua yêu nước nở rộ, miền Bắc thi đua với miền Nam, hậu phương sát cánh cùng tiền tuyến.

Trên bất kỳ cương vị nào, là thủy thủ trên tàu, công nhân trong xưởng máy, lãnh đạo Công hội đỏ hay Chủ tịch Mặt trận dân tộc thống nhất; và ngay cả sau này, khi Bác Hồ qua đời, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1969), đồng chí Tôn Đức Thắng luôn hiến dâng cả đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc; cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trên thế giới với tinh thần cách mạng bất khuất, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, là một gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Đồng chí Tôn Đức Thắng là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, người bạn chiến đấu gần gũi, thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ và Bác Tôn được sinh ra ở hai miền khác nhau của đất nước, có quãng đời niên thiếu khác nhau, mỗi người chọn cho mình một con đường riêng để bước vào đời nhưng cuối cùng đã gặp nhau và trở thành đôi bạn thân thiết, cùng sát cánh bên nhau đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho tổ quốc. Có thể nói Bác Hồ là linh hồn của chính sách đại đoàn kết, còn Bác Tôn là người tiêu biểu cho chính sách đó. Tại phiên họp thứ 11 Quốc hội khóa I Bác Hồ đã ôm hôn Bác Tôn thể hiện sự gắn bó với nhau trong tình cảm cách mạng, tình đồng chí bền chặt keo sơn. Dù ở cương vị nào trong Đảng và Nhà nước, hai bác vẫn là những tấm gương tiêu biểu vô giá về đạo đức cách mạng. 

Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 – 20/8/2013), để ghi nhớ công lao to lớn của những người cộng sản tiền bối như Chủ tịch Tôn Đức Thắng, mỗi cán bộ đảng viên cần nghiêm túc học tập và làm việc theo tấm gương mẫu mực của Bác Tôn, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Lê Hân